Có một Thúy Kiều giữa chốn lầu xanh

 

(Tiếp theo và hết)
Tại Lâm Truy, lầu xanh mụ Tú bà ngang nhiên làm việc mua người, bán dâm. Thúy Kiều đau đớn, quằn quại trong chốn lầu xanh ấy. Nhiều câu thơ, nhiều cảnh Nguyễn Du đã vẽ nên hai Thúy Kiều. Một trong cảnh xô bồ, cười nói cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm, một trong khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa!
Trong những câu thơ đau thắt, quặn lòng GS. Lê Trí Viễn chú ý đặc biệt đến hai câu: Dặm nghìn nước thẳm non xa/ Biết đâu thân phận con ra thế này?!
Vì sao vậy? Quy luật tâm lí của muôn người là khi ta khổ đau cùng cực, rất cần người thân biết đến, chia sẻ. Ở chốn lầu xanh không một ai thấu hiểu: Vui là vui gượng kẻo mà/ Ai tri ân đó mặn mà với ai! Tất nhiên Thúy Kiều nhớ cha nhớ mẹ, nhớ người yêu trong nỗi nhớ xa cách vời vợi, biệt vô âm tín. Hai câu thơ, câu 6, cứ hai chữ một nhịp như cắt ra từng nỗi đau đớn giằng xé: Dặm nghìn/ nước thẳm/ non xa… Và như tiếng khóc òa lên Biết đâu thân phận, bốn chữ dâng trào để rồi nấc lên từng tiếng con/ ra/ thế này?
Nỗi đau của Thúy Kiều trong đoạn thơ này là đối lập là sự chán ngán cho cảnh xưa – nay, trong trắng – bẩn đục, cuộc sống của một con người, cuộc đời của gái thanh lâu:
Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường! Ai đã từng sống trong nhung lụa, sống trong một gia phong nền nếp, được chở che bảo vệ mới thấu nỗi đau bị giày vò, bị tan tác dưới bước chân của những kẻ vô tình! Không hiểu một nhà thơ đã từng sống trong cảnh trâm anh thế phiệt đệ nhất nước Nam rồi mười năm gió bụi, đói rách, bệnh tật có hiện hình trong hai câu thơ đối lập ấy không?
Cái tài của cụ Nguyễn không chỉ miêu tả cảnh sa cơ thất thế mà còn miêu tả đến cùng cực của nỗi sa cơ thất thế ấy: Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân. Tách hai chữ dày dạn ra thành dày gió, dạn sương, hai chữ chán chường thành bướm chán, ong chường, người nghe cứ như thấy nỗi đau ấy như bồi đắp thêm bao gió bụi, mặt mày đáng thương, đáng quý kia như trơ ra với cuộc đời bẩn đục, cái thân nghìn vàng trở nên thừa thãi không kẻ đoái hoài!
Vừa mới tả nỗi tê tái buốt giá, nhà thơ lại vẽ cảnh trăng, hoa, tuyết, nguyệt, cảnh tay vẽ bức tranh hay đề câu thơ… nhưng những động tác ấy không có sinh khí, chỉ như thợ vẽ, thợ đàn, thợ chơi cờ… bởi trong lòng thiếu kẻ tri âm!
Nói kỹ những điều trên để ta thấy thêm một điều: Ở đây, Nguyễn Du đã rời xa nguyên truyện (Kim – Vân – Kiều Truyện). Ngòi bút trữ tình, lợi thế của thơ ca và đặc biệt tấm lòng thương người, đồng cảm với những khổ đau tinh thần của con người đã giúp Nguyễn Du có đoạn thơ đau đớn, quằn quại như đã nói ở trên.
Trong nguyên truyện, TTTN chỉ viết: “Lại nói, Thúy Kiều mình lại rơi vào chốn lầu xanh, tài nghệ dung nhan đều vào hạng nhất, cái tiếng thạo hồ cầm và thi phú bay khắp gần xa. Ai ai cũng biết Mã Kiều (Thúy Kiều đến ở lầu xanh Mã giám sinh nên có tên mới – LXL chú) là tay giỏi tân thanh, thạo hồ cầm, rung động tâm tình người ta, hấp dẫn hồn phách người ta, thật là một tiếng cười đáng giá nghìn vàng.
Thúy Kiều thường nghĩ mình xuất thân là hạng người thế nào, bình sinh hứa hẹn những gì mà ngày nay rơi vào bể khổ, biết bao giờ có ngày mở mày mở mặt. Và cám cảnh, Thúy Kiều làm bài thơ dài khóc trời (khóc hoàng thiên). Một bài thơ kể lể cuộc đời những năm tháng đã qua cùng nỗi đau làm gái thanh lâu.
Mới hay, từ một nội dung bình thường dễ dãi, Nguyễn Du đã chắt lọc, chiêm nghiệm bao nỗi đau trần thế để viết nên đoạn thơ ngậm đắng, nuốt cay!
Lê Xuân Lít

 

Bài khác  Cuộc thi Olympic “Tài năng tiếng Anh”: Tạo cơ hội phát triển năng lực cho học sinh phía Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *